Liệu rằng khi chúng ta luôn hướng đến một “thời đại đàn bà hiên ngang oanh tạc”, có đâu đó vẫn những tiếng chê bai chỉ trích âm thầm luôn chực chờ bổ nhào lên, muốn đè bẹp mọi tiếng nói, lời ca của chúng ta ngay lập tức? Trước hết, tự ý thức vấn đề sẽ là nền tảng, là bước đầu tiên để mỗi chúng ta –những người phụ nữ thực sự hiểu rõ chính mình – đập tan đi những dây xích vô hình luôn sẵn sàng siết nghẹn ta bất cứ khi nào có thể.
1“Women are directly adapted to act as the nurses and the educators of our early childhood, for the simple reason that they themselves are childish, foolish and short-sighted – in a word, are big children all their lives…” (tạm dịch: “Phụ nữ thích hợp một cách trực tiếp cho việc trở thành những bảo mẫu và giáo viên cho thời thơ ấu của chúng ta bởi thực ra họ cũng ngây ngô, nhẹ dạ và thiển cận; nói cách khác, họ là những đứa trẻ to xác trong suốt cuộc đời mình…”)
Đây là một trích dẫn trong cuốn sách “Luận về phụ nữ” của triết gia người Đức Arthur Schopenhauer. Dù được biết đến là người có tầm hiểu biết sâu rộng và sắc sảo, ông lại thể hiện những quan điểm mang hàm ý coi thường, căm ghét phụ nữ trong những triết lí của mình. Điều này cũng dễ hiểu bởi Schopenhauer sống trong những năm 1800, thời kì mà vị thế người phụ nữ trong xã hội phần lớn phụ thuộc vào người đàn ông bên cạnh họ, và vai trò của phụ nữ chỉ thu hẹp quanh việc duy trì nòi giống, chăm sóc gia đình và trau chuốt vẻ bề ngoài. Phụ nữ trong thời kì ấy không có nhiều tiếng nói trong xã hội, bởi những định kiến hà khắc và tiêu cực tựa một bàn tay lớn kéo họ xuống đáy sâu của đại dương. Có lẽ do những định kiến ấy đã hằn sâu trong tiềm thức của con người trong hàng trăm, hàng nghìn năm, nên hình ảnh phái nữ luôn bị gắn liền với sự yếu đuối và phụ thuộc. Cho đến ngày nay, cuộc sống hiện đại mở ra cho phụ nữ biết bao cơ hội để họ được cất tiếng nói, có những quyền lợi bình đẳng như nam giới và được bảo vệ dưới góc nhìn cởi mở hơn của con người. Dẫu vậy, dường như những định kiến thù ghét phái nữ vẫn còn tồn tại ở những hình thức ít lộ liễu hơn nhưng nỗi đau chúng mang lại thì chẳng thể lường trước.
SỰ ĐÁNH GIÁ THẤP PHÁI NỮ LUÔN TỒN TẠI?
Xuôi dòng lịch sử về hàng nghìn năm trước, khi loài người mới xuất hiện trên Trái Đất, vai trò của đàn ông và phụ nữ đã được phân chia tương đối rõ ràng. Do có ưu thế về cơ bắp, đàn ông thực hiện những công việc nguy hiểm như săn bắn. Còn người phụ nữ không chỉ tham gia vào công việc trồng trọt, hái lượm mà còn mang thiên chức sản sinh giống nòi và chăm sóc con cái – những nhiệm vụ quan trọng trong việc duy trì sự phát triển của nhiều thế hệ. Chính vì vậy, vai trò của phụ nữ trong xã hội nguyên thủy được coi trọng, dẫn tới cấu trúc xã hội mẫu hệ.
Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ phong kiến – thời kỳ chuyển giao sang chế độ phụ hệ, vai trò của người phụ nữ bị coi nhẹ hơn bao giờ hết.
Ở các nước phương Tây, chế độ phong kiến trao quyền lực vào tay nam giới, vì thế, đàn ông được tham gia vào các hoạt động trong mọi lĩnh vực và nắm giữ những vị trí cao trong xã hội. Phụ nữ do đó bị lệ thuộc vào đàn ông. Vai trò lý tưởng của họ được coi là làm vợ, làm mẹ, không phải can dự vào các công việc xã hội. Họ bị loại ra khỏi hệ thống giáo dục và chính trị, điển hình như các trường đại học châu Âu thời Trung cổ không nhận sinh viên nữ. Các tác phẩm văn học nghệ thuật thời kì này phản ánh rõ ràng sự áp lực phụ nữ phải chịu do những định kiến đè lên vai họ, nổi bật là “Kiêu hãnh và định kiến” của Jane Austen. Phần lớn các nhân vật nữ trong cuốn sách đều bị ảnh hưởng bởi chế độ xã hội lúc bấy giờ, họ được khắc hoạ là luôn trông chờ vào việc tìm kiếm một người chồng giàu, có địa vị cao để được hưởng một cuộc sống an nhàn; họ phấn khích đến tột độ, cố gắng chải chuốt lại vẻ ngoài nhằm gây ấn tượng khi trông thấy một chàng trai quý tộc đi tới. Cả cuộc đời của họ sẽ được quyết định bằng người đàn ông họ chọn làm bạn đời – người có thể nâng địa vị xã hội của họ lên, cũng có thể dẫn họ tới sự nghèo túng, bần hàn.
Tại phương Đông, tư tưởng Nho giáo đề ra những khuôn mẫu có tác động hạn chế quyền lợi và hạ thấp vai trò của nữ giới. Quan niệm “Tam tòng – Tứ đức” đã khuôn mẫu hóa người phụ nữ. Theo “Tam tòng”, phụ nữ luôn phải gắn liền với cha, với chồng, với con trai: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, hay phải “công – dung – ngôn – hạnh” – vừa có đạo đức, lòng nhân hậu, vừa thủy chung, tình nghĩa theo “Tứ đức”. Vì sao người phụ nữ phải trở thành một phiên bản hoàn hảo không tì vết như thế trong khi họ không được nhận lại bất kỳ quyền lợi nào từ cơ hội học tập, thăng tiến, thậm chí là không có quyền tự chủ tài sản? Những vẻ đẹp phẩm chất của nữ giới chẳng những không được trân trọng, mà phụ nữ còn bị khinh thường, bị gắn với sự yếu đuối, lệ thuộc. Dù người phụ nữ chịu trách nhiệm chăm lo gia đình là nhiệm vụ mang lại hạnh phúc bền vững lâu dài, xã hội lại có xu hướng đề cao giá trị vật chất, quyền lợi bên ngoài mà đàn ông đem lại. Phụ nữ, vì thế, không chỉ phải chịu những sự áp đặt trong xã hội cũ, mà còn bị xem thường trong cuộc sống hiện đại.
KHI HÌNH ẢNH NỮ GIỚI BỊ BÓP MÉO BỞI TRUYỀN THÔNG
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ, thương mại và truyền thông đóng vai trò quan trọng đối với sự truyền tải thông tin và định hướng góc nhìn của con người về các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các yếu tố này góp phần không nhỏ trong việc tiêu cực hóa và hạ thấp phụ nữ.
Trong ngành giải trí, không ít những hình thức lạm dụng hình ảnh gợi cảm của phụ nữ xuất hiện nhằm thu hút thêm nhiều người xem. Điển hình như chương trình truyền hình thực tế “The Influencer” của Hàn Quốc ra mắt vào năm 2024 đã nhận phải làn sóng chỉ trích từ dư luận do để một số người chơi nữ thực hiện những hành động phản cảm như múa thoát y, ăn mặc hở hang,…nhằm câu view2. Điều này vô hình chung cổ xuý cho những quan điểm tiêu cực về nữ giới, biến họ trở thành công cụ để mua vui.
Bên cạnh đó, một số bộ phim khắc họa nhân vật nữ qua lăng kính một chiều, làm giảm sự đa dạng và chiều sâu của phái nữ. Một ví dụ điển hình là mô típ “manic pixie dream girl” – kiểu nhân vật nữ xuất hiện để làm mới cuộc sống của nam chính, nhưng lại không có hành trình phát triển của riêng mình. Những nhân vật như vậy, chẳng hạn như Summer trong “500 Days of Summer”, tồn tại chủ yếu để phục vụ sự phát triển tâm lý của nam chính. Hình tượng này vô tình thể hiện sự phân biệt giới tính và góp phần củng cố quan điểm rằng phụ nữ cần dịu dàng và sống xoay quanh nam giới, thay vì theo đuổi cuộc sống riêng.
SỰ KỲ THỊ PHỤ NỮ NỘI TÂM HÓA: KHI PHỤ NỮ HẠ THẤP CHÍNH MÌNH
Theo nghiên cứu, hiện tượng Internalized Misogyny đề cập đến cảm giác khi phụ nữ tự ghét bản thân, duy trì niềm tin vào sự thấp kém của bản thân so với nam giới và phủ nhận sự bất công về quyền được đối xử bình đẳng (Bearman & Amrhein, 2014). Về bản chất, sự tự ghét này xuất hiện khi phụ nữ – những người được coi là thuộc nhóm yếu thế, bất mãn với những định kiến xã hội áp đặt lên họ, nhưng nam giới – nhóm có đặc quyền – lại quá mạnh để họ có thể đối đầu, dẫn đến việc chuyển hướng sự bất mãn sang những người phụ nữ khác3. Dần dần, họ chấp nhận những định kiến đó như một thực tế khách quan, và duy trì việc tự xem thường như một vòng luẩn quẩn4. Sự phớt lờ việc bị áp bức xuất phát từ cơ chế phòng vệ, khi người phụ nữ phải thay đổi hành vi để phù hợp với kỳ vọng của xã hội trong chế độ phụ quyền. Điều này khiến phụ nữ không thể lên tiếng cho mưu cầu của bản thân, thậm chí sinh ra sự cạnh tranh giữa nữ giới thay vì đoàn kết để cùng nâng cao vị thế của phái nữ trong xã hội.
Biểu hiện thứ nhất của xu hướng Internalized Misogyny nằm ở cảm giác bất lực nội tại – Internalized Powerlessness, xảy ra khi một cá nhân, sau nhiều lần thất bại, trở nên thụ động, mất động lực cố gắng mặc dù họ vẫn có cơ hội thành công. Người phụ nữ khi trải qua hiện tượng này thường nghĩ rằng bản thân không đủ giỏi, làm giảm đi mong muốn tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển bản thân hay học hỏi kỹ năng mới. Hiện tượng này là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự thiếu hụt những đóng góp của nữ giới trong các lĩnh vực khoa học và các vị trí quyền lực, và góp phần vào sự xuất hiện của hội chứng ‘imposter syndrome’ – kẻ mạo danh, khi phụ nữ cảm thấy mình không xứng đáng với những thành tựu đạt được.
Thứ hai, hiện tượng Objectification (tạm dịch: Vật thể hóa bản thân) xuất hiện khi phụ nữ nhìn nhận bản thân dựa theo mức độ hấp dẫn giới tính mà người khác cảm nhận, thay vì những giá trị bên trong. Ngày nay, một số hành vi vật thể hóa phụ nữ được quảng bá như một hình thức ‘trao quyền’; tuy nhiên, điều này càng củng cố khuôn mẫu xưa cũ về giới tính, xem giá trị người phụ nữ được cân đo đong đếm dựa trên ngoại hình thay vì nhìn nhận họ là một con người toàn diện.
Tiếp đến, khi người phụ nữ đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của bản thân mình, đó chính là hiện tượng “Loss of Self” (tạm dịch: Đánh mất bản thân). Hiện tượng này được bộc lộ rõ ràng khi họ đóng vai trò làm mẹ. Theo khảo sát Women @ Work của Deloitte năm 20235, phụ nữ phải chịu trách nhiệm cho phần lớn việc chăm sóc con cái tại nhà, và một số người bày tỏ quan điểm rằng họ phải ưu tiên sự nghiệp của bạn đời hơn sự nghiệp của bản thân. Những điều này khiến phụ nữ bị mắc kẹt trong những công việc bấp bênh, thu nhập thấp, ảnh hưởng tới những phúc lợi khi về già.
Cuối cùng, việc chỉ trích và cạnh tranh không lành mạnh với những người phụ nữ khác cũng là một biểu hiện của xu hướng Internalized Misogyny. Một bộ phận nữ giới trong xã hội hiện nay có xu hướng soi mói cuộc sống của cô gái khác: “Áo gì nhìn rõ cả sợi chỉ đứt, rõ ràng là hàng fake”, “Nhìn ngực cô ta kìa, hẳn phải đắp một đống silicon rồi đó!”, “Sao cô ta chỉ làm công ăn lương mà được diện đồ hiệu, đi du lịch sang chảnh khắp nơi, hẳn cô ta kiếm tiền bất chính, hay phải dựa dẫm vào đàn ông mới được như thế!”. Những suy nghĩ tiêu cực ấy một phần bắt nguồn từ lòng ganh ghét đố kị và sự khó kết nối với những người cùng giới. Những hành vi này có thể gây tổn thương cho phái nữ, tạo ra một sự cản trở với những người phụ nữ có mong muốn chống lại định kiến xưa cũ, và làm suy giảm sự tin tưởng, gắn kết giữa những cô gái.
Dưới lớp vỏ bọc ca ngợi ‘những người phụ nữ truyền thống’, Internalized Misogyny dẫn tới nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của phụ nữ. Hiện tượng này trước hết có tác động nặng nề đến sức khỏe tinh thần của nữ giới, gây ra cảm giác lo âu, thậm chí có thể dẫn đến chứng trầm cảm và rối loạn ăn uống. Lòng tự tôn của phụ nữ cũng bị lung lay bởi xu hướng này, khi nữ giới nghĩ rằng bản thân yếu đuối và kém cỏi hơn nam giới, điều này vô tình ngăn cản nữ giới phát triển tiềm năng của bản thân và chinh phục những điều họ khao khát, khiến người phụ nữ mất đi quyền tự quyết và cảm giác làm chủ cuộc đời mình.
Vì ở bất kì đâu khi một người đàn ông mắc sai lầm, họ đều luôn tìm ra bóng dáng của một người phụ nữ để phải chịu trách nhiệm. Không cần lí lẽ, không cần bằng chứng, và càng không cần tôn trọng – cứ vậy, họ mặc định mọi hành vi, suy nghĩ mang tính tiêu cực đều xuất phát từ phụ nữ – do họ và vì họ là căn nguyên gốc “đẻ ra” những người gây ra vấn đề. Nam giới không sai – nhưng tư tưởng nuôi dưỡng hệ thống cầm quyền mà người nắm giữ vị trí thống trị là nam giới thì đã và đang gây ra những hệ lụy, những luồng giáo dục vô cùng độc hại và làm tổn thương tới tất cả mọi người – không riêng bất kì ai cả nhưng những nguyên nhân thì đi theo vô thức lại luôn mang dáng hình phụ nữ.
CÓ PHẢI PHỤ NỮ LUÔN LÀ NGƯỜI SAI?
Lỗi của người phụ nữ đôi khi chỉ là: quá đẹp để bị ghen tị, quá giỏi để bị nghi ngờ, quá dịu dàng để bị coi là thảo mai, quá độc lập để bị xem là ích kỉ và quá sống thật để thành người không biết điều. Thậm chí ở trong xã hội nay, dưới con mắt của một bộ phận cá nhân, là phụ nữ thôi cũng quá đủ để sai. Bao nhiêu trường hợp chồng ngoại tình, trai gái – do vợ không biết chăm sóc bản thân, không đủ sức hấp dẫn, không có khả năng sinh lí, hay rồi khi họ ra ngoài kiếm tiền chủ động kinh tế thì thành ích kỷ, không biết vun vén cho gia đình, “làm nhiều để làm gì khi không được chồng yêu?”. Lên tiếng bộc lộ cảm xúc của mình thì họ bảo “nhạy cảm” nhưng khi không lên tiếng họ lại trở thành người “vô cảm – không biết quan tâm đến người khác”. “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” – những câu nói ăn sâu vào tiềm thức bao thế hệ trở thành những cái cớ để ta thêm chỉ trích thêm đay nghiến “phận đàn bà con gái”, đồng thời cũng đã cho ta thấy phụ nữ dù ít hay nhiều cũng đã luôn bị xem nhẹ, bị coi thường, bị đổ lỗi từ thời xa xưa đến nay. Khi một video phát tán với chủ đích chê bai cách một cô gái ăn mặc cá tính, đâu đó vẫn tồn tại lời chỉ trích những cô gái đó bằng những từ ngữ khiếm nhã như “loại lẳng lơ”, “phô da phô thịt mất giá”. Dù làm gì, ở đâu, phụ nữ vẫn luôn là tâm điểm cho sự bàn tán, chỉ trích cho thỏa mãn nỗi lòng của những kẻ “khao khát kiểm soát và thống lĩnh”.
Có một sự thật đau lòng rằng, xu hướng nội tâm hóa định kiến đang ngày càng nặng nề khi những người bị áp bức sống quá lâu trong định kiến, họ có xu hướng bảo vệ lại nó để thấy mình “an toàn hơn”. Đó chính là lý do vì sao ta thấy không ít những bài chỉ trích phụ nữ lại đến từ chính phụ nữ, thay vì bảo vệ lẫn nhau thì họ lại chọn cách hạ nhau xuống để thấy mình, đứng đắn và cao giá hơn. Tại sao trước khi làm bất cứ điều gì, từ lời ăn, tiếng nói, hành động, cử chỉ họ luôn gắn người phụ nữ với một cái “giá” nào đó và ai “đắt” hơn thì mới được tôn trọng hơn? Họ cho rằng nếu chủ động bày tỏ tình cảm của mình, chủ động thể hiện khát khao mong muốn có được tình yêu, chủ động kiếm tìm hạnh phúc của mình là “mất giá”- thật không hiểu sao tới thời đại tiến bộ như thế kỉ 21 rồi mà vẫn có những bài ca được ca tụng như thần thánh rằng ai được theo đuổi, được nam giới chủ động mới là người “cao giá”. Từ bao giờ mà phụ nữ như một món hàng để người khác cân đo đong đếm giá trị rồi chọn lựa cho phù hợp với mức tiêu xài của mình vậy? Thật điên rồ nếu chúng ta lan truyền sự giáo dục này đến những cô bé mới lớn và hướng chúng theo những “định kiến mới” – hệ quả tiêu cực từ sự phá bỏ những định kiến cũ. Hay đây còn gọi là “sự quay ngược lại của định kiến”, từng có thời, một người phụ nữ biết đọc, biết viết là một mối nguy. Ở Châu Âu thời Trung cổ, nếu cô ấy biết y thuật hay thiên văn học, thậm chí chỉ cần là một bà đỡ có kiến thức kinh nghiệm, thì khả năng cao cô sẽ bị treo cổ hoặc thiêu sống với cái mác “phù thủy”. Hay những quan điểm cổ hủ như “Đàn ông mâm trên đàn bà mâm dưới”, “Đàn bà chỉ nên ở nhà nội trợ chăm con”, hay “Sinh con gái làm gì” – tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn được ca tụng và truyền bá. Sau đằng đẵng những quá trình đấu tranh và lên tiếng, cuối cùng thế giới cũng hiểu ra được sự bình đẳng là dành cho tất cả mọi người và những cô bé được khuyến khích đi học, khuyến khích đến trường, tham gia vào các cuộc thi, trở nên độc lập và tự chủ, và đó cũng là một hình mẫu mà rất nhiều người đang hướng đến. Nhưng rồi “Giỏi quá thì đâu ai dám cưới” – phải chăng xã hội đang vô tình gieo rắc vào đầu phụ nữ nỗi lo sợ phải kìm hãm sự phát triển của bản thân để “vừa mắt” đàn ông? “Mạnh mẽ thế thì ai dám lại gần nữa”, “cứ công việc thế thì bảo sao chồng chả không cần”. Phải chăng, sự mạnh mẽ đồng nghĩa với việc đánh mất đi sự nữ tính, sự dịu dàng cần có trong một mối quan hệ, đó là những lời buộc tội đầy bất công, đặt gánh nặng lên vai người phụ nữ, như thể sự nghiệp của họ là nguyên nhân của mọi đổ vỡ. Liệu chúng ta có đang sống trong một xã hội mà sự phát triển của phụ nữ lại bị coi là mối đe dọa cho hạnh phúc lứa đôi? Ngày nay, những người phụ nữ vẫn bị phán xét – chỉ là bằng một bộ tiêu chuẩn mới – mỉa mai thay, chính là vì họ đã thoát được khỏi khuôn mẫu cũ? Liệu xã hội đã thực sự mở rộng quyền tự do cho phụ nữ chưa, hay chỉ là chuyển đổi sang một hình thức giam hãm tinh vi hơn, khi quyền lựa chọn đi kèm với áp lực phải lựa chọn “đúng” trong mắt người khác? Chúng ta có sai không khi đã lựa chọn sống vì mình?
GHÉT PHỤ NỮ HAY GHÉT NHỮNG GÌ KHÔNG CÓ LỢI CHO ĐÀN ÔNG?
Xã hội có thực sự ghét phụ nữ không, hay họ chỉ ghét những gì không phục vụ đàn ông? Vì muốn đào tạo phụ nữ thành những cỗ máy được lập trình cao cấp để chịu đựng và nhún nhường chỉ để “được tôn trọng và yêu thương”, không ít người cổ vũ phụ nữ học, nhưng là “học” sao cho nữ tính hơn, hiểu chuyện hơn. Chúng ta không cổ vũ sự dịu dàng của phái nữ như một bản sắc, một đặc trưng kì diệu mà những cánh hồng đã vốn luôn có, mà ta biến tất cả thành một công cụ “truyền thông” dưới quy chuẩn của cánh mày râu, được gói trọn trong các thước phim ngắn dễ lên xu hướng như: “Cách khiến anh ấy mê bạn”, “Làm sao để yêu lâu mà anh ấy không chán bạn?”, “5 điều đàn ông thấy thu hút ở một người phụ nữ”, “Làm sao để được nhiều người theo đuổi?”,… và vô vàn những thước phim khác đã vô tình hay cố ý tẩy não một bộ phận chưa đủ nhận thức đi vào con đường lầm tưởng “bản thân chỉ như vậy thì mới được coi trọng”. Họ không học để hiểu chính mình mà học để làm hài lòng ánh nhìn người khác. Họ không trang điểm vì yêu bản thân mà họ trang điểm vì “đàn ông thích môi đỏ, thích babytone”. Những video “How to be a high-value women” (tạm dịch: “cách trở thành một người phụ nữ có giá trị”) xuất hiện với vô vàn những định nghĩa, những cách ứng xử được đặt ra để đong đo cân đếm “lượng giá trị” của một con người bằng ngôn ngữ “thị trường hóa các phẩm chất”. Những nội dung ngắn như này lại thu hút được rất nhiều lượt quan tâm vì bản thân ai trong mỗi chúng ta cũng luôn mong cầu được yêu thương và chú ý nhưng, kỳ lạ thay, ta lại tự chọn cách kìm hãm chính mình trong một khuôn mẫu được đăng tải tràn lan và coi đó là châm ngôn sống của mình. Và có lẽ rồi chúng ta sẽ lại đem những tiêu chuẩn đó áp lên ánh nhìn của mình về mọi người, rằng nếu ai đó khác biệt thì họ là người sai, họ chẳng giống phụ nữ. Chính vì vậy, những nét tính cách đẹp đẽ ấy đã và đang trở thành một dạng công cụ chiến lược sinh tồn thay vì một dạng tự do biểu hiện.
Ngày xưa xã hội kìm chân phụ nữ trong gian nhà xó bếp, ngày nay phụ nữ được thoải mái hơn trong cái lồng giam to hơn bởi “sự nữ tính, nét quyến rũ và trí thông minh có chừng mực” và thật trớ trêu khi luồn sâu thêm vào suy nghĩ của họ rằng hãy nhận lấy không gian chật hẹp đó là một niềm đặc ân, là một niềm vinh dự khi được vây quanh bởi những lời khen ngợi “có điều kiện” để tạo ra khuôn mẫu chung vừa lòng xã hội ấy. Sự “khuyến khích phát triển bản thân” đôi khi chỉ là bản nâng cấp của sự phục tùng – phụ nữ đẹp hơn, giỏi hơn, gợi cảm hơn, không phải để sống thật với mình, mà để lọt vào mắt xanh của một người đàn ông đủ tiêu chuẩn với ngoại hình, tiền bạc và hoàn cảnh gia đình tốt. Chúng ta đang sống trong thế giới như vậy, một thế giới mà một bộ phận tư duy nỗ lực chỉ để có thể có tư cách sánh bên một người đàn ông. Phải chăng chúng ta vẫn quen tự trói mình, và đôi khi trói cả những người xa lạ vào những kỳ vọng mơ hồ của người khác, chỉ để lấp đầy khao khát được công nhận? Thậm chí có những người đã “học quá giỏi” cách trở thành một sản phẩm hoàn hảo trong mắt đàn ông, đến mức họ coi đó là một hình mẫu để rao giảng ngược lại cho những người phụ nữ khác. Họ không chỉ sống trong chiếc lồng được bọc nhung, mà còn thuyết phục người khác rằng: “Chiếc lồng này thoải mái lắm, vào đi, ở trong đó mới là người phụ nữ có giá”.
Song khi đứng lên vì nhau, điều gì đã xảy ra? Có một thực tế đáng buồn là: bất cứ khi nào phụ nữ cất tiếng nói bảo vệ mình, họ thường bị gắn mác là “nổi loạn”, “hằn học”, hay tệ hơn là “ghét đàn ông”. Như Bell Hooks từng viết: “Truyền thông đại chúng theo khuynh hướng bảo thủ liên tục trình hiện phụ nữ nữ quyền như những kẻ căm ghét đàn ông. Và khi có một phản ứng, một xu hướng chống lại nam giới nảy sinh trong phong trào, truyền thông sẽ tô đậm nó như một cách để gây sự bất tín đối với nữ quyền luận”. Cái nguy hiểm ở đây không chỉ là việc phụ nữ bị hiểu sai, mà còn là cách mà bất kỳ nỗ lực tự do nào cũng bị bóp méo thành một sự cực đoan, khiến những người phụ nữ khác cảm thấy ngần ngại khi dám sống thật với mình. Họ không chỉ bị kiểm soát bằng định kiến, mà còn bằng sự sợ hãi bị ghét bỏ – một hình thức giam hãm tinh vi hơn gấp nhiều lần. Nhưng trong một thế giới luôn dễ dàng nghi ngờ phụ nữ, thì việc ta chọn tin họ, lắng nghe họ chính là một hành động can đảm.
Không phải tất cả phụ nữ đều đúng, nhưng phụ nữ luôn xứng đáng được tin rằng họ không mặc định là sai. Đã đến lúc, phụ nữ không chỉ thoát ra khỏi khuôn mẫu của chính mình, mà còn học cách không đóng khung lẫn nhau. Bởi mỗi lần một người phụ nữ lựa chọn bảo vệ một người phụ nữ khác, thế giới lại bớt đi một vết thương. Audre Lorde từng nói: “Tôi không tự do khi bất kỳ người phụ nữ nào không được tự do, kể cả khi xiềng xích của cô ấy rất khác với của tôi”. Một thế giới công bằng cho phụ nữ không thể được xây bằng sự im lặng, cũng không thể được định nghĩa bằng chuẩn mực của người khác. Nó được khởi dựng từ sự thấu cảm, từ ánh nhìn không phán xét, và từ niềm tin rằng: phụ nữ có quyền là chính mình, mà không cần phải xin phép ai cả.
“Nhắc lại cho các nàng nhớ rằng đây là thời đại đàn bà hiên ngang oanh tạc
(that’s right)
Dịu dàng và duyên dáng, không dễ bắt nạt
Ưu tiên làm các thứ khiến bản thân thêm thanh thản
Chị em thích làm gì thì làm (thì làm)
Nàng càng tự do bấy nhiêu nàng càng chặt đẹp”
(Cái đẹp – Pháo x Pháp Kiều x Tlinh)
Tài liệu tham khảo:
2Theo Báo Tiền phong ngày 11/8/2024
3Theo “Self-Hatred among Jews” (Resolving social conflicts, K.Lewin, 1945)
4Theo “Women as a minority group” (Social Forces, Helen Mayer Hacker, 1951).
5Theo Markettimes ngày 5/9/2023
Tác giả: Nguyễn Thúy Nga, Lương Tuệ Minh
Dịch giả: Nguyễn Ngọc Linh, Trần Ái Linh, Hoàng Đặng Xuân Mỹ


Để lại một bình luận